banner

Luật sư và việc tham gia phiên hòa giải trong vụ án dân sự

Luật sư TRẦN HỒNG PHONG

 

 

(Ecolaw..vn) – Hòa giải trong tố tụng dân sự là một thủ tục bảo đảm nguyên tắc tôn trọng quyền tự định đoạt của đương sự. Ngoài đương sự, luật sư cũng có quyền tham gia vào phiên hòa giải.
 

Bạn đọc Le Quang H. có gửi email cho chúng tôi, nội dung như sau:
 

“Tôi có đọc trên báo Pháp luật TP.HCM có ý kiến của một tiến sĩ luật, theo đó nói rằng nên cho luật sư tham dự phiên hòa giải trong vụ án dân sự.Tôi không phải là người rành về pháp luật, nhưng theo tôi được biết thì việc luật sư tham dự phiên hòa giải là qui định lâu nay. Thực tế tôi có một vụ kiện về nhà đất, có thuê luật sư và luật sư cũng đã từng dự phiên hòa giải. Mong các luật sư nếu được thì vui lòng phân tích thêm về vấn đề này để mọi người cùng nắm”.
 

----------------------------------------------------------------
 

Chúng tôi có đọc qua bài báo do anh đề cập. Theo đó, có đoạn nội dung như sau:
 

“TS Nguyễn Thị Hoài Phương (giảng viên Trường ĐH Luật TP.HCM) cho rằng thật vô lý khi luật sư là đại diện của đương sự nhưng lại chỉ được tham gia tại tòa mà lại không có ở khâu hòa giải. Làm như vậy là tòa đã hạn chế quyền được biết và nghĩa vụ bảo vệ của họ với đương sự trong quá trình tham gia tố tụng. Có luật sư ở phiên hòa giải sẽ giúp quá trình giải quyết vụ án nhanh hơn vì có thể chính họ sẽ phân tích, tác động đương sự hòa giải thành”.
 

Tôi không bình bàn về bài báo hay quan điểm của tiến sĩ luật trong đó, mà muốn nhân đây trao đổi thêm về vấn đề luật sư tham dự phiên hòa giải trong vụ án dân sự - như sau:
 

“Luật sư” không phải là “đương sự”
 

Theo qui định tại Bộ luật tố tụng dân sự năm 2005, tại Việt Nam, “luật sư” và “người đại diện” (theo ủy quyền của đương sự) là hai khái niệm khác nhau, có tư cách tố tụng khác nhau. Cụ thể: luật sư là “người bảo vệ quyền lợi cho đương sự” trong quá trình giải quyết một vụ án dân sự. Còn “người đại diện cho đương sự” chính là “đương sự” – có thể là nguyên đơn, bị đơn, người liên quan …vv. Nhưng do đương sự vì lý do nào đó không trực tiếp tham gia vào vụ kiện mà ủy quyền cho người khác thay mặt mình thực hiện các quyền và nghĩa vụ của đương sự do pháp luật qui định.

 

Một phiên tòa dân sự (ảnh minh họa)
 

Cũng theo luật tố tụng dân sự, luật sư và đương sự có các quyền và nghĩa vụ không trùng khớp với nhau. Và điều đặc biệt là một người không thể cùng lúc tham gia vào vụ án với hai tư cách : vừa là luật sư vừa là “người đại diện theo ủy quyền của đương sự”. Hay nói cách khác, nếu vị luật sư nào đó tham gia vào vụ án với tư cách là “người đại diện” thì điều này là được, pháp luật cho phép. Tuy nhiên, lúc này vị luật sư đã “mất” tư cách luật sư (chỉ trong vụ án này), không được quyền làm luật sư cho đương sự nữa.
 

Qui định như trên hiện có nhiều người cho rằng không được phù hợp lắm. Vì vô hình chung đã làm “mất” đi tư cách của người luật sư – dù họ thực sự là luật sư. Và dẫn đến trường hợp là nhiều khi đương sự phải thuê tới hai luật sư : một người làm “luật sư”, còn một người thì làm “người đại diện”. Việc này rõ ràng là thừa, gây tốn kém, phiền phức.
 

Theo tôi được biết thì ở nước ngoài, có qui định luật sư có quyền đại diện luôn cho thân chủ ( mà vẫn có tư cách luật sư). Tuy vậy, tôi cũng cảm thấy băn khoăn là vì: trong một phiên tòa, nếu luật sư tham gia cùng lúc cả hai tư cách tố tụng như vậy thì sẽ ngồi ở vị trí nào trong phòng xét xử? Nếu ngồi ở ghế luật sư thì ai ngồi ở ghế đương sự? Xưng hô tại tòa như thế nào? Đây là vấn đề mà nếu có sự thay đổi về pháp luật, thì nhất thiết phải có những điều luật rõ ràng, cụ thể hơn.
 

Tham dự phiên hòa giải là quyền luật định của cả đương sự và luật sư từ lâu
 

Hòa giải là một thủ tục bắt buộc trong quá trình giải quyết vụ án dân sự. Đây là thủ tục cần có để các đương sự có cơ hội và điều kiện trao đổi, thỏa thuận với nhau một cách “hòa bình”, mỗi bên “nhường” một bước – thay vì phải đưa ra xét xử. Thủ tục hòa giải bảo đảm nguyên tắc và quyền “tự quyết” của các đương sự trong vụ án dân sự.
 

Như vậy, việc đương sự có quyền tham gia phiên hòa giải là điều hiển nhiên. Tại Điều 58 Bộ luật tố tụng dân sự qui định rõ đương sự có quyền “tự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án; tham gia hòa giải do Tòa án tiến hành”.
 

Trên thực tế, nếu đương sự, sau khi nhận được giấy triệu tập của tòa án mà không đến tham gia phiên hòa giải thì tòa án sẽ lập “Biên bản không hòa giải được” ( vì thiếu đương sự thì làm sao mà hòa giải?). Còn nếu hai bên (nguyên đơn, bị đơn) cùng tham gia hòa giải và đạt được thỏa thuận thì tòa án sẽ lập thành “Biên bản hòa giải thành” – sau đó ra Quyết định công nhận sự thỏa thuận của đương sự. Nếu hai bên tham gia hòa giải nhưng không đạt được thỏa thuận thì tòa án sẽ lập “Biên bản hòa giải không thành” và sẽ đưa vụ án ra xét xử.
 

Vậy, luật sư có quyền tham gia phiên hòa giải hay không?
 

Thực ra, luật qui định rất rõ về quyền tham gia phiên hòa giải của luật sư. Cụ thể tại Điều 64 Bộ luật tố tụng dân sự qui định luật sư (người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho đương sự) có quyền “tham gia việc hòa giải”.
 

Qua thực tế hành nghề, bản thân tôi – với tư cách là luật sư hoặc người đại diện của đương sự - đã rất nhiều lần tham gia các buổi hòa giải tại Tòa án. Trong các Biên bản hòa giải có trường hợp ghi rõ tôi tham gia với tư cách là luật sư. Tuy nhiên, cũng có khi luật sư chỉ tham gia hòa giải với vai trò “sau rèm”. Tức là cùng ngồi để giải thích, hỗ trợ thân chủ (đương sự) hòa giải mà không cần phải có “chính danh” trong Biên bản hòa giải. Xét cho cùng, việc có ghi tên luật sư vào Biên bản hòa giải hay không cũng không quan trọng. Vì ý kiến, quan điểm và sự “tự quyết” của đương sự mới có ý nghĩa quyết định đến việc có hòa giải được hay không.
 

Theo quan điểm của tôi, hiện nay Bộ luật tố tụng dân sự đã khá tốt, có nhiều nội dung rất tiến bộ, dân chủ. Vấn đề quan trọng là mọi người, đặc biệt là phía cơ quan tiến hành tố tụng (tòa án, thẩm phán) phải thực sự tôn trọng và thực hiện cho đúng. Bằng không thì có luật cũng … như không. Chẳng hạn như các qui định về việc tôn trọng, ghi nhận ý kiến của các bên, về việc nộp đơn kiện qua đường bưu điện, về thu thập, đánh giá chứng cứ, về nội dung bản án, về tôn trọng kết quả tranh luận tại phiên tòa …vv.
 

Là người có thâm niên 10 năm trong nghề, đã tham gia hàng trăm vụ án, tôi biết rõ người dân “nản” và bức xúc nhất là các trường hợp tòa cố tình không tôn trọng sự thật, thiếu khách quan, thậm chí có dấu hiệu tiêu cực.

 

Qui định của pháp luật:


Quyền, nghĩa vụ của đương sự

 

1. Các đương sự có các quyền, nghĩa vụ ngang nhau khi tham gia tố tụng.
2. Khi tham gia tố tụng, đương sự có các quyền, nghĩa vụ sau đây:
a) Cung cấp chứng cứ, chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình;
b) Yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức đang lưu giữ, quản lý chứng cứ cung cấp chứng cứ đó cho mình để giao nộp cho Toà án;
c) Đề nghị Toà án xác minh, thu thập chứng cứ của vụ án mà tự mình không thể thực hiện được hoặc đề nghị Toà án triệu tập người làm chứng, trưng cầu giám định, định giá; khiếu nại với Viện kiểm sát về những chứng cứ mà Toà án đã xác minh, thu thập do đương sự khác yêu cầu;
d) Được biết và ghi chép, sao chụp tài liệu, chứng cứ do các đương sự khác xuất trình hoặc do Toà án thu thập;
đ) Đề nghị Toà án quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời;
e) Tự thoả thuận với nhau về việc giải quyết vụ án; tham gia hoà giải do Toà án tiến hành;
g) Nhận thông báo hợp lệ để thực hiện các quyền, nghĩa vụ của mình;
h) Tự bảo vệ hoặc nhờ người khác bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình;
i) Tham gia phiên toà;
k) Yêu cầu thay đổi người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng theo quy định của Bộ luật này;
l) Đề xuất với Toà án những vấn đề cần hỏi người khác; được đối chất với nhau hoặc với nhân chứng;
m) Tranh luận tại phiên toà;
n) Được cấp trích lục bản án, quyết định của Toà án;
o) Kháng cáo, khiếu nại bản án, quyết định của Toà án theo quy định của Bộ luật này;
p) Phát hiện và thông báo cho người có thẩm quyền kháng nghị căn cứ để kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật;
q) Phải có mặt theo giấy triệu tập của Toà án và chấp hành các quyết định của Toà án trong thời gian giải quyết vụ án;
r) Tôn trọng Toà án, chấp hành nghiêm chỉnh nội quy phiên toà;
s) Nộp tiền tạm ứng án phí, án phí, lệ phí theo quy định của pháp luật;
t) Chấp hành nghiêm chỉnh bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật;
u) Các quyền, nghĩa vụ khác mà pháp luật có quy định.
 

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự
 

1. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự là người được đương sự nhờ và được Toà án chấp nhận để tham gia tố tụng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự.
2. Những người sau đây được Toà án chấp nhận làm người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự:
a) Luật sư tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật về luật sư;
b) Công dân Việt Nam có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, chưa bị kết án hoặc bị kết án nhưng đã được xoá án tích, không thuộc trường hợp đang bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở chữa bệnh, cơ sở giáo dục và quản chế hành chính; không phải là cán bộ, công chức trong các ngành Toà án, Kiểm sát, Công an.
3. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự có thể bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhiều đương sự trong cùng một vụ án, nếu quyền và lợi ích hợp pháp của những người đó không đối lập nhau. Nhiều người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự có thể cùng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của một đương sự trong vụ án.
 

Quyền, nghĩa vụ của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự
 

1. Tham gia tố tụng từ khi khởi kiện hoặc bất cứ giai đoạn nào trong quá trình tố tụng dân sự. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự được tham gia phiên toà giám đốc thẩm, tái thẩm nếu Toà án xét thấy cần thiết.
2. Xác minh, thu thập chứng cứ và cung cấp chứng cứ cho Toà án, nghiên cứu hồ sơ vụ án và được ghi chép, sao chụp những tài liệu cần thiết có trong hồ sơ vụ án để thực hiện việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự.
3. Tham gia việc hoà giải, tham gia phiên toà hoặc có văn bản bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự.
4. Thay mặt đương sự yêu cầu thay đổi người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng khác theo quy định của Bộ luật này.
5. Giúp đương sự về mặt pháp lý liên quan đến việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ.
6. Các quyền, nghĩa vụ quy định tại các điểm m, q và r khoản 2 Điều 58 của Bộ luật này.
 

( Theo các điều 58, 63 và 64 Bộ luật tố tụng dân sự 2005)

 

Bài trên báo Pháp luật TP.HCM:

• Sửa đổi Bộ luật Tố tụng dân sự: Nên cho luật sư tham gia phiên hòa giải
 

Thứ ba, 29/07/2014

Tư vấn trực tuyến

Tỉ giá

CodeBuySell
AUD19770.9220068.92
CAD19362.3619792.71
CHF23172.6823640.01
DKK03886.99
EUR28314.0628654.35
GBP35648.8136222.58
HKD2702.822757.33
INR0360.74
JPY205.44209.38
KRW023.05
KWD075891.57
MYR06734.39
NOK03463.79
RUB0664.41
SAR05838.55
SEK03146.71
SGD16848.7417257.43
THB654.62681.98
USD2120521255

Giá vàng

Chứng khoán

Liên kết